CHỦ ĐỀ THÁNG 12: "UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN”
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
TRƯỜNG TH SỐ 1 BẮC LÝ
Tên trường (theo quyết định thành lập): Trường Tiểu học Số 1 Bắc Lý có một lịch sử ra đời theo nhiều giai đoạn:
Đầu tiên trường có tên là trường Lý Ninh 3 được xây dựng từ vật liệu tháo dỡ của trường Đào Duy Từ theo Quyết định số 90/QĐ/UB ngày 25/6/1990 của UBND Thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
Đến ngày 01 tháng 8 năm 1992, trường được đổi tên thành trường Tiểu học Số 1 Phường Bắc Lý theo Quyết định số 406/QĐ ngày 01/8/1992 của Sở Giáo dục và đào tạo về việc “đổi tên các trường học thuộc thị xã Đồng Hới”.
Tiếng Việt: TRƯỜNG TIỂU HỌC SỐ 1 BẮC LÝ.
Cơ quan chủ quản: PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP ĐỒNG HỚI
|
Tỉnh / thành phố trực thuộc Trung ương: |
Quảng Bình |
|
Tên Hiệu trưởng: |
ĐẶNG THỊ MINH |
|
Huyện / quận /thị xã / thành phố: |
Đồng Hới |
|
Điện thoại trường: |
0523.836.200 |
|
Xã / phường / thị trấn: |
Bắc Lý |
|
Fax: |
|
|
Đạt chuẩn quốc gia: |
Mức độ 1 |
|
Website: |
violet.vn/th-so1bacly-quangbinh |
|
Năm thành lập trường (theo quyết định thành lập): |
Số 90/QĐ/UB ngày 25/6/1990 |
|
Số điểm trường |
01 |
|
Công lập |
X |
|
Có HS khuyết tật |
X |
|
Tư thục |
0 |
|
Có học sinh bán trú |
X |
|
Thuộc vùng đặc biệt khó khăn |
0 |
|
Có học sinh nội trú |
0 |
|
Trường liên kết với nước ngoài |
0 |
|
Loại hình khác |
0 |
1.Số lớp
|
Số lớp |
Năm học 2008-2009 |
Năm học 2009-2010 |
Năm học 2010-2011 |
Năm học 2011-2012 |
Năm học 2012-2013 |
|
Khối lớp 1 |
2 |
2 |
3 |
2 |
2 |
|
Khối lớp 2 |
2 |
2 |
2 |
3 |
2 |
|
Khối lớp 3 |
2 |
2 |
2 |
2 |
3 |
|
Khối lớp 4 |
2 |
2 |
2 |
2 |
2 |
|
Khối lớp 5 |
2 |
2 |
2 |
2 |
2 |
|
Cộng |
10 |
10 |
11 |
11 |
11 |
2. Số phòng học
|
|
Năm học 2008-2009 |
Năm học 2009-2010 |
Năm học 2010-2011 |
Năm học 2011-2012 |
Năm học 2012-2013 |
|
Tổng số |
10 |
10 |
11 |
11 |
11 |
|
Phòng học kiên cố |
4 |
4 |
11 |
11 |
11 |
|
Phòng học bán kiên cố |
6 |
6 |
0 |
0 |
0 |
|
Phòng học tạm |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
|
Cộng |
10 |
10 |
11 |
11 |
11 |
3. Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên
a)Số liệu tại thời điểm đánh giá:
|
|
Tổng số |
Nữ |
Dân Tộc |
Trình độ đào tạo |
Ghi chú |
||
|
Đạt chuẩn |
Trên Chuẩn |
Chưa đạt chuẩn |
|||||
|
Hiệu trưởng |
1 |
1 |
0 |
1 |
1 |
|
|
|
Phó Hiệu trưởng |
1 |
1 |
0 |
1 |
1 |
0 |
|
|
Giáo viên |
15 |
14 |
0 |
15 |
15 |
0 |
|
|
Nhân viên |
3 |
2 |
0 |
3 |
2 |
0 |
|
|
Cộng |
20 |
18 |
0 |
20 |
19 |
0 |
NV Y tế đạt chuẩn |
b) Số liệu của 5 năm gần đây:
|
|
Năm học 2008-2009 |
Năm học 2009-2010 |
Năm học 2010-2011 |
Năm học 2011-2012 |
Năm học 2012-2013 |
|
Tổng số GV |
17 |
17 |
18 |
18 |
19 |
|
Tỷ lệ giáo viên/lớp |
1.7 |
1.7 |
1.64 |
1.64 |
1.73 |
|
Tỷ lệ giáo viên /học sinh |
0.07 |
0.06 |
0.06 |
0.06 |
0.06 |
|
Tổng số GV dạy giỏi cấp TP |
0 |
1 |
4 |
0 |
1 |
|
TS GV dạy giỏi cấp tỉnh trở lên |
0 |
2 |
0 |
0 |
0 |
4. Học sinh
|
|
Năm học 2008-2009 |
Năm học 2009-2010 |
Năm học 2010-2011 |
Năm học 2011-2012 |
Năm học 2012-2013 |
|
Tổng số |
255 |
270 |
295 |
306 |
312 |
|
- Khối lớp 1 |
55 |
56 |
73 |
63 |
65 |
|
- Khối lớp 2 |
58 |
55 |
54 |
70 |
61 |
|
- Khối lớp 3 |
51 |
58 |
57 |
56 |
67 |
|
- Khối lớp 4 |
47 |
53 |
57 |
59 |
59 |
|
- Khối lớp 5 |
44 |
48 |
54 |
58 |
60 |
|
Nữ |
123 |
127 |
128 |
129 |
127 |
|
Dân tộc |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
|
ĐT chính sách |
29 |
29 |
27 |
14 |
12 |
|
Khuyết tật |
10 |
7 |
7 |
3 |
3 |
|
Tuyển mới |
55 |
56 |
73 |
63 |
64 |
|
Lưu ban |
4 |
0 |
4 |
2 |
3 |
|
Bỏ học |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
|
Học 2 b/ ngày |
255 |
270 |
295 |
306 |
312 |
|
Bán trú |
23 |
23 |
23 |
28 |
32 |
|
Nội trú |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
Tỷ lệ HS/ lớp |
25,5 |
27 |
26.8 |
27.8 |
28.4 |
|
Tỷ lệ đi học đúng độ tuổi |
96,9% |
95% |
96,4% |
96% |
96,2% |
|
- Nữ |
123 |
121 |
128 |
128 |
127 |
|
- Dân tộc |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
|
Tổng số HS HTCT tiểu học |
44 |
48 |
54 |
58 |
60 |
|
- Nữ |
27 |
25 |
25 |
27 |
24 |
|
- Dân tộc |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
|
HS giỏi cấp Tỉnh |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
|
Tổng số HS giỏi quốc gia |
0 |
0 |
0 |
0 |
0 |
Trường Tiểu học Số 1 Bắc Lý có một lịch sử ra đời theo nhiều giai đoạn:
Đầu tiên trường có tên là trường Lý Ninh 3 được xây dựng từ vật liệu tháo dỡ của trường Đào Duy Từ theo Quyết định số 90/QĐ/UB ngày 25/6/1990 của UBND Thị xã Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
Đến ngày 01 tháng 8 năm 1992, trường được đổi tên thành trường Tiểu học Số 1 Phường Bắc Lý theo Quyết định số 406/QĐ ngày 01/8/1992 của Sở Giáo dục và đào tạo về việc “đổi tên các trường học thuộc thị xã Đồng Hới”.
Trường đóng trên địa bàn một Phường vùng ven của thành phố, nhân dân chủ yếu sống bằng nghề nông nên tình hình kinh tế hết sức khó khăn. Trong những năm học trước đây, cơ sở vật chất thiếu thốn trầm trọng, toàn trường chỉ có 02 dãy phòng học cấp 4 được xây dựng từ các vật liệu cũ, chưa có tường rào, nhà bảo vệ, dãy hiệu bộ, phòng chức năng, sân chơi chủ yếu chỉ là sân đất...
Năm 2002, trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia mức độ 1 nhưng đến năm 2007 kiểm tra lại thì không đạt chuẩn vì khi đó 1 dãy phòng học đang bị tháo dỡ để xây lại còn dãy kia cũng đã xuống cấp nặng nề. Từ năm 2007 đến năm 2010, với sự tham mưu tích cực của nhà trường, sự quan tâm của các cấp lãnh đạo và sự chung tay góp sức nỗ lực của phụ huynh, 2 dãy phòng học được thay mới và kiên cố hóa; Hệ thống tường rào, nhà vệ sinh và cổng trường được hoàn thiện; Diện tích sân chơi bãi tập được tăng dần; toàn bộ khu vực phía sau được cải tạo không còn hoang hóa. Năm 2012, kiểm tra lại, trường đã được công nhận đạt lại chuẩn mức độ 1 với các tiêu chí đạt ở mức cao hơn rất nhiều so với trước. Bộ mặt nhà trường đã thay đổi căn bản, toàn diện từ bên trong đến bên ngoài. Cơ sở vật chất cơ bản đầy đủ, đáp ứng yêu cầu dạy học. Cảnh quan, khuôn viên nhà trường ngày càng được tôn tạo, đạt tiêu chí xanh, sạch, đẹp, thân thiện. Chất lượng đội ngũ và chất lượng giáo dục học sinh ngày càng được nâng cao. Không chỉ thế, trường còn trở thành trung tâm văn hoá của địa phương, được cấp trên ghi nhận và được và nhân dân ủng hộ nhiệt tình.
Năm học 2012-2013, toàn trường có tổng số 312 học sinh (tăng 08 em so với năm học trước), được biên chế thành 11 lớp. Tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên là 25, trong đó có 20 biên chế và 05 giáo viên hợp đồng. Cơ sở vật chất khá đầy đủ, đảm bảo các hoạt động giáo dục một cách có hiệu quả. Phát huy những thành tích đã đạt được trong những năm học trước, tiếp thu các văn bản chỉ đạo của ngành, với sự quan tâm chỉ đạo của Sở giáo dục và Phòng Giáo dục Đào tạo thành phố, sự quan tâm đầu tư của Đảng uỷ, chính quyền địa phương, Ban Giám hiệu nhà trường tập trung chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện kế hoạch năm học, triển khai đầy đủ, kịp thời các chủ trương, nhiệm vụ của ngành, không ngừng đổi mới trong công tác thi đua khen thưởng, tăng cường xây dựng khối đoàn kết nội bộ, thực hiện dân chủ hóa trường học, nhằm tiếp tục đưa nhà trường ngày đi lên.
Nhà trường nhận thức sâu sắc rằng tự đánh giá là một khâu quan trọng trong việc lập kế hoạch nâng cao chất lượng giáo dục, là khâu đầu tiên trong tổng thể các hoạt động kiểm định chất lượng đào tạo của cơ sở giáo dục phổ thông. Đó là quá trình nhà trường tự xem xét nghiên cứu các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành để báo cáo thực trạng chất lượng, hiệu quả hoạt động giáo dục, nghiên cứu khoa học, nhân lực, cơ sở vật chất cũng như các vấn đề liên quan khác. Từ đó điều chỉnh các nguồn lực và quá trình thực hiện nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng. Tự đánh giá còn thể hiện tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của nhà trường trong toàn bộ các hoạt động giáo dục và đào tạo theo chức năng và nhiệm vụ được giao, tạo cơ sở cho các bước đánh giá tiếp theo. Tự đánh giá cần nhiều thời gian và cần có sự tham gia của các đoàn thể, cá nhân trong nhà trường. Tự đánh giá đòi hỏi tính khách quan, trung thực và công khai. Mục đích của tự đánh giá là làm rõ thực trạng, quy mô, chất lượng và hiệu quả các hoạt động giáo dục và đào tạo, nhằm điều chỉnh công tác quản lí cũng như phương pháp, hình thức dạy học đảm bảo phù hợp với tôn chỉ, mục đích, sứ mạng của cơ sở giáo dục trong tình hình phát triển kinh tế hiện nay. Thông qua tự đánh giá nhằm xác định rõ tầm nhìn, các điểm mạnh, điểm yếu, thời cơ, thách thức của nhà trường và đề xuất các chiến lược, kế hoạch, biện pháp cải tiến nhằm từng bước nâng cao chất lượng giáo dục. Đồng thời kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền chỉ đạo và cung cấp các biện pháp hỗ trợ cho nhà trường không ngừng mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và hiệu quả các hoạt động giáo dục.
Hội đồng tự đánh giá chất lượng giáo dục nhà trường có 9 đồng chí, gồm Ban Giám hiệu, thư ký Hội đồng trường, các tổ trưởng, tổ phó chuyên môn, văn phòng, trưởng ban Thanh tra nhân dân, Tổng phụ trách Đội và đại diện thường trực Ban đại diện Cha mẹ học sinh trường. Các thành viên Hội đồng được phân công thu thập, xử lý, phân tích các thông tin, minh chứng và đánh giá mức độ đạt được theo từng tiêu chí. Sau khi đánh giá, các thành viên viết báo cáo tự đánh giá tiêu chí được phân công. Bản báo cáo chung tự đánh giá được công khai trong hội đồng sư phạm nhà trường.
Qua quá trình tự đánh giá, khi đối chiếu với các tiêu chí, nhà trường nhận thấy một số vấn đề có ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục nhà trường như sau:
Về đội ngũ giáo viên: Nhà trường có đủ số lượng giáo viên giảng dạy các môn theo quy định, đội ngũ đa số trẻ, có năng lực chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, nhiệt tình trong giảng dạy, 100% giáo viên có trình độ trên chuẩn. Nhiều giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi các cấp.
Về cơ sở vật chất: Nhờ làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục nên cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học của nhà trường tăng trưởng nhanh, cơ bản đáp ứng yêu cầu dạy và học.
Về chất lượng giáo dục: Trong những năm gần đây, chất lượng giáo dục học sinh tăng lên và ổn định cả về chất lượng đại trà và chất lượng mũi nhọn. Số học sinh giỏi các cấp được tăng dần đi đôi với việc giảm dần tỉ lệ học sinh yếu kém .
Trần Văn Toàn @ 15:44 11/09/2013
Số lượt xem: 238
BẮC LÝ







Các ý kiến mới nhất