CHỦ ĐỀ THÁNG 12: "UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN”
Chào mừng quý vị đến với website của ...
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nhận thức trẻ em là chủ thể của quá trình giáo dục tiểu học
1. Quan niệm về trẻ em
Dựa trên những quan điểm triết học rất khác nhau, người ta đã hiểu về trẻ em rất khác nhau.
- Có quan niệm cho rằng trẻ em là “người lớn thu nhỏ lại”, sự khác nhau giữa trẻ em và người lớn khác nhau về mọi mặt (cơ thể, tư tưởng, tình cảm...) chỉ ở tầm cở, kích thước chứ không khác nhau về chất.
- Theo J.J. Rútxô (1712 - 1778): Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại và người lớn cũng không phải lúc nào cũng có thể hiểu được trí tuệ, nguyện vọng và tình cảm độc đáo của trẻ thơ…vì “Trẻ em có những cách nhìn, cách suy nghĩ và cảm nhận riêng của nó”.
- Theo điều 1, “Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em”, trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi.
2. Quan niệm về sự phát triển tâm lý trẻ em trí tuệ trẻ em
Theo thuyết sinh học hay thuyết tiền định: Sự phát triển nhân cách do yếu tố di truyền quyết định, môi trường và giáo dục không có vai trò gì trong sự phát triển nhân cách. Thuyết này coi sự phát triển tâm lí là do các tiềm năng sinh vật gây ra, con người có tiềm năng này từ khi mới sinh ra và sự phát triển chỉ là sự trưởng thành, chín muồi của những thuộc tính đã có sẵn ngay từ đầu và được quyết định trước bằng con đường duy truyền này. Đại diện cho quan điểm này là giai cấp tư sản trong thời kỳ đầu của cách mạng tư sản, họ cho rằng những đứa trẻ da đen hoặc xuất thân trong tầng lớp hạ lưu thì đều không có khả năng được giáo dục thành công.
Tuy nhiên, có những người theo thuyết này có đề cập đến yếu tố môi trường. Nhưng theo họ, môi trường chỉ là “yếu tố điều chỉnh”, “yếu tố thể hiện” một nhân tố bất biến nào đó ở trẻ.
Nhà tâm lý học Mỹ E. Toóc-đai cho rằng: “Tự nhiên ban cho mỗi người một vốn nhất nhất định, giáo dục cần phải làm bộc lộ vốn đó là vốn gì và phải sử dụng nó bằng phương tiện tốt nhất” và “vốn tự nhiên” đó đặt ra giới hạn cho sự phát triển, cho nên một bộ phận học sinh tỏ ra không đạt được kết quả nào đó “dù giảng dạy tốt”, số khác lại tỏ ra lại có thành tích “dù giảng dạy tồi”...).
Như vậy, vai trò của giáo dục đã bị hạ thấp. Giáo dục chỉ là yếu tố bên ngoài có khả năng làm tăng nhanh hay kìm hãm quá trình bộc lộ những phẩm chất tự nhiên, bị chế ước bởi tính di truyền. Và họ đã rút ra kết luận: mọi sự can thiệp vào quá trình phát triển tự nhiên của trẻ đều là sự tùy tiện, không thể tha thứ.
Theo thuyết duy cảm: Môi trường là yếu tố quyết định sự phát triển nhân cách, giáo dục là “vạn năng”. Thuyết này cho rằng trẻ em như “tờ giấy trắng”, môi trường và giáo dục tác động như thế nào thì trẻ sẽ phát triển như thế ấy. Thuyết này tuyệt đối hóa ảnh hưởng của yếu tố môi trường và giáo dục. Đại diện cho quan điểm này là nhà giáo dục người Mỹ-John Locker, ông đã từng phát biểu rằng: “Trẻ em như một tờ giấy trắng và nhà giáo dục có thể viết vẽ bất cứ thứ gì lên đó”. Điều này có nghĩa là nhân cách của một đứa trẻ hoàn toàn phụ thuộc vào bàn tay “nhào nặn” của nhà giáo dục.
3. Nhận thức trẻ em là chủ thể của qúa trình giáo dục tiểu học
Theo quan điểm của các nhà giáo dục Mỹ, so với trước đây, trẻ con đã có sự thay đổi đáng kể về trí thông minh. Hiện tượng trẻ “khôn trước tuổi” ngày càng phổ biến do “trường thông tin” ngày càng được mở rộng đã tác động lên cơ cấu trí tuệ của trẻ. Từ đó họ cho rằng, trẻ em không phả là “tờ giấy trắng” mà là một thứ “âm bản”. Điều đó có nghĩa là những gì cần thiết cho sự phát triển của đứa trẻ thì đã tiềm ẩn trong bản thân chúng rồi, chứ không phải là con số 0 như quan niệm “trẻ em là một tờ giấy trắng”. Giáo dục ví như một thứ “thuốc rữa” (dấu ngã) để biến “âm bản” thành “dương bản”. Quan niệm “âm bản” thừa nhận trẻ em là một thực thể trí tuệ đầy tiềm năng mà chỉ có nền giáo dục tiến bộ mới có thể tiếp cận và phát triển tiềm năng trí tuệ này một cách đúng đắn. Giáo dục làm cho tiềm năng bộc lộ sớm hay muộn, đúng hướng hay không đúng hướng, hiệu quả hay không hiệu quả.
Bên cạnh đó, khi trẻ bước vào tuổi thứ 5, đã có 20 ngàn chi nhánh tế bào được hoàn thiện mà những chi nhánh này lại quyết định khả năng tiếp thu tri thức con người. Vì thế ở lứa tuổi thứ 5, trẻ em có năng lực học tập tốt nhất. Bởi vậy, có thể nói mẫu giáo và tiểu học là bậc học nền tảng (trước đây chỉ xem Tiểu học là bậc học nền tảng) có vai trò to lớn trong việc định hình và phát triển năng lực tri thức con người, góp phần quyết định sự trưởng thành nhân cách trí tuệ và tâm hồn cho học sinh sau này.
Thực tế, Ông cha ta có câu “có bột mới gột nên hồ”, thừa nhận vai trò di truyền rất quan trọng. Có thể nói, trí lực của trẻ về cơ bản có sự ảnh hưởng nhất định từ yếu tố di truyền. Phần lớn những đứa trẻ có chỉ số IQ cao đều sinh ra từ những người cha hoặc người mẹ có chỉ số IQ cao và ngược lại những cha mẹ có chỉ số IQ thấp thì con cái cũng thường thấp kém về con số này. Các tài liệu thống kê đã chỉ rõ: Nếu cha mẹ đều có trí lực bình thường, khả năng trẻ có trí lực bình thường là 73%, nếu một trong hai người có trí lực bình thường, người kia có trí lực dưới mức bình thường thì khả năng sinh ra trẻ có trí lực bình thường là 64%, còn nếu cả hai có trí lực dưới mức bình thường thì khả năng sinh ra trẻ có trí lực bình thường chỉ có 28%, nếu một người có trí lực dưới mức bình thường còn một người khiếm khuyết thì khả năng sinh ra trẻ có trí lực bình thường chỉ đạt 10% và nếu cả hai bố mẹ đều kém khiếm khuyết thì khả năng con cái bình thường chỉ còn 4%. Nghiên cứu của Tambs cùng những cộng sự (1989) cho thấy rằng bằng cấp đạt được, nghề nghiệp cũng như IQ là di truyền được; và hơn nữa cho thấy rằng gene ảnh hưởng rất lớn lên thành công trong học tập, khoảng 25% nghề nghiệp và gần 50% biến dị về gene lên IQ. Rowe cùng những cộng sự trong công trình nghiên cứu năm 1987 cho rằng sự không đồng đều trong thu nhập và giáo dục đến hầu hết từ gene, và các yếu tố môi trường chỉ có vai trò rất phụ. Điều này thể hiện trí lực và di truyền có mối quan hệ mật thiết với nhau. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có những đứa trẻ kém phát triển về trí tuệ được sinh ra từ những bố mẹ thông minh và giỏi giang. Điều này còn do những yếu tố nào quy định?
Trong sự phát triển trí tuệ của trẻ, giáo dục đóng vai trò quan trọng song không phải là tất cả. Những đứa trẻ được nuôi dạy và giáo dục tốt, thừa hưởng những yếu tố thuận lợi từ giáo dục thì sẽ có điều kiện để phát triển trí tuệ tốt hơn. Trẻ được thừa hưởng những phương pháp giáo dục tốt từ trong gia đình, ngay từ khi bé còn nằm trong bụng mẹ sẽ tiếp thu được những tinh hoa giáo dục đó ngay từ thủa “trứng nước”. Tuy nhiên trong một môi trường khác nhau, tại sao lại có sản phẩm khác nhau. Trong lớp học như nhau sao lại phải phân ra đối tượng? Lý giải vấn đề này, các nhà nghiên cứu cho rằng, trẻ em khác nhau có một phương pháp học khác nhau. Phương pháp học tập dựa trên tiềm năng học tập của học sinh thông qua “cỗ máy học” được xác định bởi thần kinh ngoại biên (liên quan các giác quan) và thần kinh trung ương (liên quan đến não bộ).
Bên cạnh đó, tác giả Daniel Coleman, nhà tâm lý người Mỹ cho rằng sự thành công của trẻ phụ thuộc vào “môi trường xúc cảm”. Thuật ngữ IQ (intelligence quotient) là chỉ số thông minh; thuật ngữ EQ (emotional intelligence quotient) là chỉ số thông minh xúc cảm. Hai em có IQ giống nhau nhưng sự tiếp thu và lĩnh hội tri thức cũng có sự khác nhau. Điều đó nói nên rằng quá trình chuyển tải thông tin phụ thuộc vào chính “độ nhạy bén” của các em. Khi trưởng thành, em này thành đạt hơn em kia. Đó là nhờ trí thông minh xúc cảm. Học sinh tiểu học chủ yếu là tư duy bằng thị giác, chưa đòi hỏi tư duy tầm cao. Nhưng khi các em tư duy tầm cao cần giáo viên hỗ trợ gọi là bắc giàn (Scaffolding), được kích thích kiến thức tiền đề, khi đó các em sẽ hình thành xúc cảm.
4. Kết luận
Sự phát triển của trẻ đầy biến động và diễn ra cực kỳ nhanh chóng, là một quá trình liên tục ngay từ khi mới sinh ra, nó phát triển cùng với sự phát triển sinh lý. Quá trình này không phẳng lặng mà có khủng hoảng và đột biến. Chính hoạt động của trẻ dưới sự hướng dẫn của người lớn làm cho tâm lí của trẻ được hình thành và phát triển. Nhưng những đặc điểm cơ thể là điều kiện cần thiết, là tiền đề của sự phát triển tâm lí trẻ em.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.PGS-TS. Phạm Minh Hùng- Vấn đề thời sự của Giáo dục Tiểu học - Đại học Vinh 2008.
2. GS. Howard Gardner. Theory of multiple intelligenc
Trần Văn Toàn @ 14:40 11/09/2013
Số lượt xem: 303
BẮC LÝ







Các ý kiến mới nhất